Triết học và những điều xoay quanh nó

Đăng bởi Anna Do vào

1. Triết học là gì

Triết học là bộ môn nghiên cứu về những vấn đề chung và cơ bản của con người, thế giới quan và vị trí của con người trong thế giới quan, những vấn đề có kết nối với chân lý, sự tồn tại, kiến thức, giá trị, quy luật, ý thức, và ngôn ngữ. Triết học được phân biệt với những môn khoa học khác bằng cách thức mà nó giải quyết những vấn đề trên, đó là ở tính phê phán, phương pháp tiếp cận có hệ thống chung nhất và sự phụ thuộc của nó vào tính duy lý trong việc lập luận.

Trong tiếng Anh, từ “philosophy” (triết học) xuất phát từ tiếng Hy lạp cổ đại φιλοσοφία (philosophia), có nghĩa là “tình yêu đối với sự thông thái”. Sự ra đời của các thuật ngữ “triết học” và “triết gia”  được gắn với nhà tư tưởng Hy Lạp Pythagoras .Một “nhà triết học” được hiểu theo nghĩa tương phản với một “kẻ ngụy biện ” (σοφιστής). Những “kẻ ngụy biện” hay “những người nghĩ mình thông thái” có một vị trí quan trọng trong Hy Lạp cổ điển, được coi như những nhà giáo, thường đi khắp nơi thuyết giảng về triết lý, nghệ thuật hùng biện và các bộ môn khác cho những người có tiền, trong khi các “triết gia” là “những người yêu thích sự thông thái” và do đó không sử dụng sự thông thái của mình với mục đích chính là kiếm tiền.

Có lẽ, nhiều người khi nghe đến hai từ “triết học” là họ sẽ liên tưởng đến một môn học mà họ cho rằng chỉ phù hợp với những kẻ mọt sách, thích nghiên cứu, suốt ngày chỉ triết lý này nọ. Nhiều người cho rằng, học triết sẽ chả có tác dụng gì, vì nó chả động đến một tí kĩ năng nghề nghiệp cụ thể nào, như kế toán, lập trình viên, kĩ sư xây dựng, bác sĩ, giáo viên…Vì thế, nhiều người (ý tôi là người Việt Nam) đã không chú trọng đến việc học môn học này. Dường như, những người này đang có những hiểu lầm nhất định về môn Triết học, sau đây, tôi sẽ phân tích mọi người nhận ra những hiểu lầm này.

Trước hết phải nói rằng, triết học không phải là một bộ môn nghề, tức là nó không dạy bạn kiến thức của một nghề nghiệp cụ thể nào, nhưng nó lại dạy bạn một kĩ năng mà bất kì ngành nghề nào, đó là kĩ năng tư duy. Nói cách khác, nó dạy bạn cách suy nghĩ chứ không dạy bạn phải suy nghĩ cái gì.
Trong triết học, bạn học cách suy nghĩ một cách chín chắn, làm thế nào để phân tích thông tin, làm thế nào để đưa ra các lập luận thuyết phục và làm thế nào để viết một cách rõ ràng và logic, …. Đây là những kỹ năng chính xác mà các nhà tuyển dụng trong tất cả các ngành đang tìm kiếm.

2. VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC

Bên cạnh thái độ coi thường vai trò của triết học – một thái độ rất tiếc rằng, hiện nay vẫn hiện diện ở nơi này, nơi kia, trong lĩnh vực hoạt động này hay khác – lai có một thái độ khác: thái độ tuyệt đối hoá vai trò của triết học, nghĩ rằng chỉ cần nắm được triết học thì lập tức sẽ giải quyết được tất cả các vấn đề cụ thể của thực tiễn. Có nơi, có lúc, vì quá nhấn mạnh vai trò của triết học nên đã gây ra ở một số người ảo tưởng rằng, triết học là cái chìa khoá vạn năng, chỉ cần nắm được nó là tự khắc sẽ giải quyết được mọi vấn đề. Có nơi, có lúc, với lòng nôn nóng muốn đưa triết học vào phục vụ hoạt động thực tiễn, các cán bộ triết học đã hăng hái lao vào nghiên cứu, giải quyết những vấn đề thực tiễn quá cụ thể chỉ với những tri thức triết học chung mà quên mất rằng, để có thể tìm ra lời giải đáp đúng đắn cho những vấn đề hết sức cụ thể, bên cạnh những tri thức lý luận chung, trong đó có tri thức triết học, còn cần có hàng loạt tri thức khác nữa, như sự am hiểu tường tận về tình hình thực tế liên quan đến vấn đề cụ thể đang được xét trong một bối cảnh không gian – thời gian nhất định, sự hiểu biết sâu sắc về nghề nghiệp, đặc biệt là sự nhạy cảm thực tiễn, một sự nhạy cảm chỉ có được qua quá trình đào luyện, lăn lộn lâu năm trong nghề. Thiếu những cái vừa nói, không một nhà triết học uyên bác nào có thể tìm ra được một lời giải đáp đúng đắn nào cho bất cứ một vấn đề cụ thể nào của cuộc sống, cho dù đó là một vấn đề đơn giản nhất đi nữa.

Như vậy, để có thể giải quyết một cách có hiệu quả những vấn đề cụ thể hết sức phức tạp và vô cùng đa dạng của cuộc sống, chúng ta cần tránh cả hai thái cực sai lầm: hoặc là xem thường triết học và do đó sẽ sa vào tình trạng mò mẫm, tuỳ tiện, dễ bằng lòng với những biện pháp cụ thể, nhất thời, đi đến chỗ mất phương hướng, thiếu nhìn xa trông rộng, thiếu chủ động và sáng tạo trong công việc; hoặc là tuyệt đối hoá vai trò của triết học và do đó sẽ sa vào tình trạng áp dụng một cách máy móc những nguyên lý, những quy luật, những tri thức triết học chung mà không tính đến tình hình cụ thể đó không nắm được tình hình cụ thể đó trong từng trường hợp cụ thể, hậu quả là sẽ khó tránh khỏi bị thất bại.

Kết hợp chặt chẽ cả hai loại tri thức trên đây tri thức chung (trong đó có tri thức triết học và tri thức khoa học chuyên ngành) và tri thức thực tiễn (trong đó có sự hiểu biết tình hình thực tiễn và trình độ tay nghề được biểu hiện qua sự nhạy cảm thực tiễn) – đó là tiền đề cần thiết đảm bảo thành công của chúng ta trong hoạt động cụ thể của mình.


Trả lời

Translator-Dịch »