Quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam – Mỹ

Đăng bởi Anna Do vào

Việt Nam và Mỹ bắt đầu những nỗ lực cải thiện quan hệ ngoại giao đầu tiên từ những năm 1980. Ngày 3/2/1994, Tổng thống Mỹ Bill Clinton tuyên bố dỡ bỏ lệnh cấm vận Việt Nam. Tháng 1/1995, Mỹ và Việt Nam ký Hiệp định thiết lập Văn phòng Liên lạc tại thủ đô mỗi nước.

Ngày 11/7/1995, Tổng thống Bill Clinton tuyên bố chính thức bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, mở ra một chương mới trong lịch sử quan hệ giữa hai quốc gia.

Quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã trở nên sâu sắc và đa dạng hơn trong những năm đã bình thường hóa chính trị. Hai nước đã thường xuyên mở rộng trao đổi chính trị, đối thoại về nhân quyền và an ninh khu vực. Hai nước ký kết Hiệp định Thương mại song phương vào tháng 7 năm 2000, bắt đầu có hiệu lực từ tháng 12 năm 2001. Tháng 11, 2007, Hoa Kỳ chấp thuận Quy chế Quan hệ Thương mai bình thường(PNTR) cho Việt Nam.

Về quan hệ chính trị, hai bên đã thiết lập được các kênh đối thoại mang tính xây dựng và thẳng thắn giữa các cấp, các ngành, các tổ chức. Hai bên đã trao đổi nhiều đoàn quan chức cấp cao của chính quyền, quốc hội về tất cả các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, thương mại. Lãnh đạo cấp cao hai nước cũng có các tiếp xúc thường xuyên tại các diễn đàn quốc tế và khu vực. Quá trình này giúp khẳng định mong muốn chung về quyết tâm xây dựng một khuôn khổ quan hệ ổn định, lâu dài.

Về kinh tế-thương mại, Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ được ký kết và chính thức có hiệu lực tháng 12 năm 2001 đã đưa thương mại hai nước tăng mạnh từ 1,4 tỷ USD năm 2001 lên 6,4 tỉ năm 2004 và đưa Hoa Kỳ trở thành thị trường hàng đầu cho hàng hoá Việt Nam. Tuy nhiên, đây mới chỉ là bước đầu vì tiềm năng buôn bán giữa hai nước còn rất lớn. Mặt khác, đầu tư của Hoa Kỳ còn khiêm tốn, chưa tương xứng với khả năng hùng hậu của quốc gia này. Ngoài Hiệp định thương mại song phương, hai bên cũng đã ký kết được nhiều hiệp định và thoả thuận hợp tác kinh tế khác.

Hai bên đã có nhiều cố gắng hợp tác giúp đỡ nhau giải quyết các vấn đề nhân đạo do chiến tranh để lại. Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã và đang làm hết sức mình giúp Hoa Kỳ kiểm kê các trường hợp binh sỹ Mỹ mất tích trong chiến tranh. Phía Hoa Kỳ cũng đã có một số biện pháp đáp ứng những nhu cầu nhân đạo của Việt Nam trong việc khắc phục những hậu quả chiến tranh như xử lý bom mìn, tẩy độc, xúc tiến việc hợp tác nghiên cứu tác hại của chất độc màu da cam đối với con người và môi trường và giúp khắc phục những hậu quả do thiên tai, dịch bệnh gây ra ở Việt Nam, cung cấp thông tin về nhiều trường hợp binh sỹ Việt Nam mất tích trong chiến tranh.

Các mối quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực khác như khoa học-kỹ thuật, giáo dục-đào tạo, y tế, lao động, văn hóa, cũng có những bước tiến tích cực. Đáng chú ý, trong lĩnh vực giáo dục, hai bên đã thỏa thuận và ký văn bản về những nguyên tắc hợp tác thực thi Quỹ giáo dục dành cho Việt Nam. Trong lĩnh vực y tế, nhiều dự án và chương trình đã được nỗ lực xây dựng và có hiệu quả như chương trình 15 triệu USD phòng chống HIV/AIDS, hợp tác phòng chống dịch bệnh SARS, dự án Giáo dục vệ sinh và dinh dưỡng học đường.

Quan hệ quốc phòng- an ninh cũng đã đi vào bình thường hóa. Bộ trưởng quốc phòng hai nước đã thăm viếng nhau vào các năm 2000 và 2003. Kể từ năm 2003, hàng năm tàu quân sự Hoa Kỳ đều vào thăm cảng Việt Nam. Quân đội hai nước cũng có hợp tác hiệu quả trong vấn đề khắc phục hậu quả chiến tranh như rà phá bom mìn, tẩy độc, v.v. Ngoài ra, hai nước đã và đang tích cực hợp tác trong lĩnh vực chia sẻ thông tin chống khủng bố. Điều này cho thấy quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã từng bước phát triển ngày càng toàn diện hơn.

Đại sứ Hoa Kỳ Daniel J. Kritenbrink khẳng định, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong khắc phục hậu quả chiến tranh; đồng thời mong muốn thúc đẩy hợp tác với Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có hợp tác về an ninh-quốc phòng.

Hoa Kỳ coi Việt Nam là đối tác quan trọng hàng đầu ở khu vực và mong muốn phát triển quan hệ với Việt Nam cũng như ASEAN vì hòa bình, hợp tác và phát triển; thúc đẩy hợp tác tiểu vùng Mekong.


Trả lời

Translator-Dịch »